Trại nhiều ruồi - Heo chậm lớn

1 con heo phải mất tới 121 ngày mới xuất chuồng tại những trại heo thịt có nhiều ruồi, trong khi ở trại kiểm soát ruồi tốt, heo chỉ cần 109 ngày là chủ trại có thể đem bán. Tiến sĩ Kai Sievert, một chuyên gia về kỹ thuật chăn nuôi cho biết. 

Cả ở trại gà và trại bò, thiệt hại do ruồi gây ra cũng rất đáng kể. Đối với gà, ruồi sẽ lan truyền 1 loại giun sán có tên là cestodosis, loại giun sán này tác động đến hệ sinh sản của gà khiến lượng trứng sụt giảm 10%. Trong khi ở bò, Stomoxys calcitrans lan truyền từ các vết do ruồi cắn, sẽ làm bò sụt giảm tăng trưởng tới 20%.

Ít ai biết rằng 1 con ruồi có thể mang theo hơn 100 loại vi trùng, vi khuẩn, trứng giun, và cả nấm. Trong đó có khoảng 65 loại gây hại cho vật nuôi và cả con người.

Ruồi cũng có thể mang bệnh từ trại nuôi heo này qua trại heo kia, và ngay cả các trại heo tiên tiến cũng chưa có cách nào ngăn chặn sự lây lan bệnh này, ngoài việc tiêu diệt ruồi và ngăn chúng đột nhập vào trại.

Trước tình hình hạn chế sử dụng kháng sinh trên heo và các loại vật nuôi khác như hiện nay, việc ngăn chặn ruồi để giảm bớt nguy cơ lây nhiễm bệnh trên heo trở nên 1 vấn đề quan trọng.

Ở những vùng có khí hậu nóng, thì ruồi sinh sản càng mạnh mẽ. Nơi nào có nhiệt độ cao, ruồi sẽ giảm vòng đời lại. Ở 16 độ C, 1 con ruồi phải mất 50 ngày để trưởng thành, tức là từ lúc ruồi mẹ đẻ trứng cho tới khi trứng nở và ruồi con có thể đẻ trứng sẽ mất 50 ngày. Nhưng khi nhiệt độ là 25 độ C, ruồi chỉ mất 16 ngày để trưởng thành, và nếu ở 35 độ C thì rút ngắn còn 7 ngày.
 Ruồi tại trại heo
Tiến sĩ Sievert cho biết, cách chống ruồi bằng cách phun thuốc trừ sâu và các loại thuốc chống ruồi khác cũng đem lại những hiệu quả khá tích cực. Tuy vậy, ông nhấn mạnh rằng các trang trại nên làm lưới ngăn ruồi ở các cửa sổ và cửa ra vào. Trong 100 trang trại đã lắp ráp hệ thống lưới chống ruồi mà Tiến sĩ Sievert đang nghiên cứu, tỉ lệ bệnh Campylobacter đã giảm từ 55% xuống còn 15%.

Khi đã làm lưới chống ruồi rồi, người chăn nuôi còn có thể ngăn ruồi sinh sản. “Không để phân của vật nuôi ở những nơi ruồi có thể tiếp cận, vì phân sẽ là nguồn thức ăn cho trứng ruồi. Bên cạnh đó, ruồi không sinh sản ở những nơi khô ráo, nên bạn có thể dễ dàng hạn chế sự sinh đẻ của ruồi bằng cách làm cho môi trường trong trang trại trở nên khô ráo”, Tiến sĩ Sievert cho biết.

Người chăn nuôi heo cũng cần xử lý ngay xác những con vật bị chết, vì đó cũng là môi trường lý tưởng cho ruồi đẻ con.

Ngoài các phương pháp diệt ruồi cơ học kể trên, biện pháp hóa học cũng được đề cập. Với rất nhiều trang trại hiện nay, họ sử dụng cách phun thuốc diệt côn trùng. Tiến sĩ Sievert cho biết khi phun thuốc ở các vách hoặc tường, chỉ cần phun thuốc vào 3/4 diện tích mà vẫn diệt được tới 98% số ruồi và trứng của chúng, và sẽ tiết kiệm được 1 lượng thuốc đáng kể.

“Và để tránh hiện tượng kháng thuốc, nên trộn hai loại thuốc khác nhau, ví dụ như trộn thuốc diệt côn trùng với thuốc diệt bọ gậy”, tiến sĩ Sievert chia sẻ.

Theo channuoi.com.vn
Hãy Share để mọi người cùng biết!

Cách tính tuổi của chó

Khi nuôi chó chắc hẳn bạn rất tò mò muốn biết tuổi của chú cún nhà mình là bao nhiêu nếu so sánh tương quan với tuổi con người. Cùng tham khảo những cách tính tuổi của chó trong bài viết dưới đây để có được câu trả lời nhé!

Bạn đang nuôi một chú chó khá thân thiết và muốn biết tuổi của nó? Có một số cách được dân gian lưu truyền và cả những nghiên cứu rõ ràng của nhiều nhà khoa học về đề tài này, dù còn nhiều tranh cãi nhưng cũng là căn cứ ở mức tương đối để tính tuổi của loài vật nuôi này. Cùng tham khảo những cách tính tuổi của chó phổ biến trong bài viết này nhé!

Sử dụng bảng quy chiếu tuổi chó

Nhiều người cho rằng khi chó 1 tuổi sẽ có tuổi tương đương với người 7 tuổi nên để tính tuổi chó theo tuổi người chỉ cần lấy số năm sinh sống của chó nhân với 7. Tuy nhiên cách tính này hoàn toàn không chính xác vì sự phát triển và lão hóa của chó không diễn tiến một cách tuyến tính như vậy. Thực tế cho thấy một con chó 1 năm tuổi đã có thể sinh sản nhưng điều đó không thể đúng với người 7 tuổi.
Để tính tuổi chó so sánh tương đối với tuổi con người, theo Gino Pugnetti, chúng ta sẽ sử dụng tuổi của chó nhân với hệ số (thay đổi theo từng giai đoạn phát triển) theo bảng sau:
Cách tính tuổi của chó
Bảng quy đổi tuổi của chó và người theo hệ số (Nguồn: Gino Pugnetti, 1994)

Cách tính tuổi của chó dựa trên giai đoạn phát triển và tầm vóc của chó

Một cách tính tuổi chó khá đơn giản bạn có thể áp dụng là dựa vào giai đoạn phát triển tương ứng với vóc dàng của chó. Căn cứ vào kích thước khi trưởng thành của chó mà có thể chia thành 3 loại như sau:
+ Nhóm chó có vóc dáng nhỏ (dưới 9kg).
+ Nhóm chó vóc dáng trung bình (9kg< cân nặng <20kg).
+ Nhóm chó vóc lớn (>20kg).
Từ đó bạn có thể quy đổi tuổi của chó theo tuổi người theo sơ đồ bên dưới.
Cách tính tuổi của chó
Sơ đồ quy đổi theo tầm vóc của chó (Nguồn: Blue Ridge Veterinary Services, 2013. 

Các dấu hiệu để xác định tuổi của chó

Ngoài ra bạn có thể tính tuổi của chó một cách tương đối căn cứ trên những dấu hiệu dưới đây:
Răng: thông thường chó có đủ răng từ khi được 7 tháng tuổi. Nếu thấy một con chó có hàm răng trắng nhởn thì nó chỉ khoảng 1 tuổi, răng sẽ dần vàng đi khi từ 1 - 2 tuổi và hơi xỉn khi 3 - 5 tuổi. Nếu chó bị rụng răng thì đã được nuôi nhiều hơn 5 năm.
Cơ bắp: Những con chó trẻ sẽ có cơ săn chắc và ưa hoạt động hơn chó đã có tuổi.
Lông: Đây là điều chúng ta rất dễ nhận ra, lông của chó non sẽ mượt mà còn chó già lại có bộ lông cứng cáp hơn.
Mắt: Những con chó nhỏ tuổi thường có mắt trong, sáng và không có rỉ mắt. Ngược lại chó già thường sẽ có mắt đục hơn.

Trên đây là những cách tính tuổi của chó đơn giản và phổ biến bạn có thể áp dụng nếu muốn biết số tuổi tương quan với tuổi con người của những con chó cưng nhà mình.
Hãy Share để mọi người cùng biết!

Kỹ thuật chăn nuôi heo: Bệnh thường gặp trong trại đẻ - Tiêu chảy do E.coli

Khám nghiệm tử thi cho thấy viêm ruột cấp tính nặng, đột ngột đến mức có thể không có triệu chứng về tiêu chảy bên ngoài. Lợn con bị bệnh run rẩy hoặc nằm tụ trong một góc.

1. Triệu chứng lâm sàng

Bệnh tiêu chảy trên heo con do E.coli có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi theo mẹ nào nhưng thường có hai thời kỳ cao điểm là 0-5 ngày tuổi và 7-14 ngày tuổi.

Bệnh cấp tính

Dấu hiệu duy nhất có thể chỉ là một con lợn hoàn toàn khỏe mạnh được tìm thấy đã chết.  Da xung quanh hậu môn và đuôi sẽ bị ướt. Xung quanh chuồng là các dấu hiệu của phân heo tiêu chảy lỏng hoặc rất lỏng. Trong nhiều trường hợp nó có mùi khác biệt. Khi tiêu chảy tiến triển heo con trở nên mất nước, với đôi mắt sâu và da bủng beo. Phân tiêu chảy thường dính vào da của các con lợn con khác làm cho chúng có làn da từ trắng đến cam. Trước khi lợn con chết, có thể thấy dấu hiệu chân đạp như chèo thuyền và có bọt ở miệng.

Tiêu chảy Ecoli trên heo

Bệnh dưới cấp tính

Bệnh ở dạng dưới cấp cũng có các triệu chứng tương tự như trong bệnh cấp tính nhưng tác dụng trên heo con một cách chậm rãi hơn, kéo dài hơn và tỷ lệ tử vong có xu hướng thấp hơn. Đây là loại tiêu chảy thường thấy khoảng 7-14 ngày tuổi, biểu hiện bởi phân lỏng nhiều nước, màu từ trắng đến vàng cam.

2. Chẩn đoán phân biệt

Bức tranh tổng thể phải được xem xét khi thực hiện một chẩn đoán.
- Bùng phát đồng loạt và đột ngột của tiêu chảy trên nhiều ổ heo với triệu chứng tiêu chảy cấp tính và tử vong cao thì chẩn đoán đề nghị là TGE, dịch tiêu chảy (PED) hoặc dịch tai xanh (PRRS). Đối với các bệnh do virus này, lần tiếp xúc đầu tiên của trại thường sẽ có ổ dịch bùng nổ.
- Tiêu chảy do rotavirus thường xuất hiện thành đợt tăng lên và giảm xuống như những cơn sóng nhưng thường chỉ ảnh hưởng trên những ổ đẻ hay lứa đẻ riêng biệt chứ không mang tính toàn đàn và thường xảy ra ở thời gian sau của chu kỳ nuôi heo con (sau 14 ngày tuổi).
- Bệnh cầu trùng có thời gian ủ bệnh 6 ngày và thường liên quan đến hội chứng tiêu chảy từ 7 đến 14 ngày tuổi.

- Tiêu chảy ở heo ít hơn 5 ngày tuổi thì nguyên nhân phổ biến nhất là vi khuẩn E. coli gây tiêu chảy cấp tính đặc biệt trong lứa đầu của nái hậu bị vì nái hậu bị truyền kháng thể cho heo con ít hơn nái rạ.
- Nhiễm trùng Clostridium cũng xảy ra ở heo ít hơn 5 ngày tuổi. Chẩn đoán được dựa trên khám lâm sàng, và phân lập hoặc quan sát hình thái dưới kính hiển vi đối với các tác nhân vi khuẩn hoặc cầu trùng.

3. Điều trị và phòng ngừa

Một số thuốc kháng sinh có sẵn được hiển thị trong Bảng 1. Hầu hết đây là những thuốc hoạt động chống lại vi khuẩn E. coli và clostridia. Nên phòng bệnh từ nái mẹ bằng cách trộn kháng sinh trong thức ăn cho nái mẹ từ khi chuyển lên chuồng đẻ cho đến 14 ngày sau đẻ. Điều này có thể có hiệu quả trong việc giảm số lượng vi khuẩn trong phân lợn nái và giúp giảm lây nhiễm cho lợn con. Quan sát heo con thường xuyên để kịp thời điều trị.

Nghiên cứu lịch sử của bệnh trên nông trại của bạn, hãy đặt các câu hỏi như:

- Bệnh xảy ra thường xuyên không?
- Bệnh trên một con hay một số con trong một lứa, hoặc cả đàn?

Đánh giá đáp ứng điều trị, nếu không có thay đổi trong vòng 12 giờ sau khi cấp thuốc thì chuyển sang thuốc khác theo tư vấn bởi bác sĩ thú y. Điều trị lợn con dưới 7 ngày tuổi bằng kháng sinh cấp qua thức ăn hoặc nước uống. Đối với lợn lớn tuổi hơn, căn bệnh này thường không phải ở dạng cấp tính và đồng thời dễ tiêm thuốc hơn nên dễ quản lý hơn.

- Cung cấp chất điện giải và viramin trong nước uống để ngăn ngừa tình trạng mất nước và duy trì cân bằng chất điện giải trong cơ thể.
- Sử dụng các chất hấp phụ để hấp phụ độc tố ở ruột (như phấn, cao lanh).
- Lót ổ úm cho heo con đủ ấm để mau chóng cải thiện tình trạng sức khỏe. Cung cấp thêm một đèn nhiệt. Nhiệt độ dao động là một trong những yếu tố chính kích hoạt bệnh tiêu chảy đặc biệt là heo từ 7 đến 14 ngày tuổi. Nhiều trường hợp tiêu chảy heo con là do người quản lý cố gắng tiết kiệm chi phí năng lượng vô tình đã để heo con bị lạnh và mắc chứng tiêu chảy.
- Luôn quan tâm rửa sạch, tiêu độc sát trùng chuồng trại, các vật dụng chăn nuôi trước khi chuyển heo vào chuồng đẻ. Thường xuyên chà rửa chuồng trại. Ở những trại đã cũ, rất khó để làm sạch thì bạn có thể chà rửa với nước vôi có chứa chất sát trùng gốc phenol. Không dùng lẫn lộn các đồ dùng chăn nuôi giữa các nhóm bệnh và không bệnh. Giữ chuồng trại sạch sẽ, khô ráo và tránh mưa tạt gió lùa.
- Không cho heo con tiếp xúc với phân nái mẹ, như vậy cần làm vệ sinh chuồng nái hằng ngày hoặc 2 lần/ngày.
- Xem xét việc chủng ngừa vi khuẩn E. coli trên nái. Tuy nhiên, kháng thể mẹ truyền thường chỉ bảo vệ heo con trong 5-7 ngày tuổi đầu.
- Tránh việc sử dụng các chất thay thế sữa nếu có thể vì khi sử dụng thường xuyên, đặc biệt là nếu sản phẩm hết hạn hoặc không bảo quản tốt, có thể làm tăng tỷ lệ mắc bệnh.
- Ngoài ra, tiêu chảy thường gặp ở những ổ có nhiều con nên việc ghép đàn hợp lý theo tuổi hoặc theo trọng lượng sau sinh cũng giúp giảm tỉ lệ tiêu chảy heo con.

Tầm quan trọng của việc bú sữa đầu

Điều quan trọng là các heo con nhận được số lượng tối đa sữa đầu trong vòng 12 giờ đầu sau sinh vì kháng thể mẹ truyền chỉ được hấp thụ trong giai đoạn này. Các yếu tố như khó tiếp cận núm vú, thiết kế chuồng đẻ và chuồng úm không đúng kỹ thuật, và đặc biệt là bệnh mất sữa của lợn nái, kết hợp với bầu vú phù nề, giảm lượng ăn vào của nái sẽ là các tiền đề gây ra kém sức đề kháng ở heo con, làm heo con dễ mắc bệnh.

Trong một ổ dịch tiêu chảy điều quan trọng là xem xét nếu bầu vú nái có hiện tượng phù nề xuất hiện (thường phổ biến hơn ở lợn nái hậu bị và nái đẻ lứa 2 so với ở lợn nái đẻ lứa ba trở lên). Nếu dịch tiêu chảy E. coli xảy ra nhiều cho thấy rằng mức độ miễn dịch mẹ truyền cho heo con thấp và quy trình tiêm chủng cần được xem xét lại. Tiêm chủng lợn nái hai lần, cách nhau 2-4 tuần và mũi tiêm thứ hai là ít nhất hai tuần trước khi đẻ. Với một trại có quy trình quản lý và vệ sinh tốt thì không cần phải tiêm chủng cho lợn nái rạ, chỉ cần tiêm cho lợn cái hậu bị.

Tiêu diệt bệnh và mầm bệnh: Một bản tóm tắt của các yếu tố quản lý liên quan đến việc ngăn chăn bệnh tiêu chảy heo con được thể hiện trong Hình 1. Cần cải thiện điều kiện chăm sóc, vệ sinh dịch tễ hoặc cách quản lý đi đôi với việc phòng trị bệnh bằng thuốc hoặc vacxin để đạt kết quả tối ưu.

 

Theo channuoi.com.vn

Hãy Share để mọi người cùng biết!

Kỹ thuật chưn nuôi heo: 6 bước chăm sóc heo thịt hiệu quả

Nuôi heo thịt phải đạt được những yêu cầu sau đây: Heo thịt phải có tốc độ sinh trưởng phát triển tốt, tiêu tốn thức ăn thấp, tốn ít công chăm sóc nuôi dưỡng, phẩm chất thịt tốt 

1. Phối hợp khẩu phần cho heo thịt
Việc phối hợp khẩu phần ăn cho heo thịt phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
- Phù hợp với đặc điểm sinh lý của các giai đoạn sinh trưởng phát triển của heo thịt
- Có tỷ lệ thức ăn tinh/ thô thích hợp
- Thức ăn có chất lượng tốt, không có các chất kháng dinh dưỡng và độc tố
- Phù hợp nguồn thức ăn của địa phương để giảm chi phí đầu vào.
 
2. Kỹ thuật nuôi heo thịt theo 2 giai đoạn
* Giai đoạn 1: heo thịt được nuôi từ 70 - 130 ngày tuổi. heo có trọng lượng trung bình từ 23 - 60 kg. Người chăn nuôi cần cho heo ăn theo khẩu phần có 17 - 18 % protein thô ( safeed- 100) , giá trị khẩu phần có từ 3100 đến 3300 Kcal
* Giai đoạn 2: heo thịt được nuôi từ 131 - 165 ngày tuổi. heo có trọng lượng từ 61 - 105 kg, khẩu phần ăn của heo có từ 14 - 16 % protein thô và 3000 - 3100 kcal
Kỹ thuật nuôi heo thịt theo 2 giai đoạn nên áp dụng để nuôi các giống heo ngoại hay heo lai F2 có 75% tỷ lệ máu ngoại trở lên. Kỹ thuật này thường áp dụng ở những cơ sở chăn nuôi tập trung, có trình độ thâm canh cao.
Cả hai kỹ thuật trên cần thiết phải cân đối thành phần các a xít amin và a xít béo không no mạch dài.
 
6 bước chăm sóc heo thịt
 
3. Kỹ thuật chăm sóc và quản lý
Heo thịt ở nước ta thường nuôi 5-6 tháng có trọng lượng từ 95 - 105 kg.
 
a. Phân lô, phân đàn
Sau khi cai sữa heo con chúng ta tiến hành phân lô, phân đàn để tiện chăm sóc, nuôi dưỡng. Việc phân lô, phân đàn phải đảm bảo các nguyên tắc sau đây:
- Khi ghép tránh không để cho heo phân biệt đàn và cắn xé lẫn nhau.
- Mật độ phải đảm bảo thích hợp theo quy định lợn từ 10 - 35 kg có 0,4 - 0,5 m2/con, từ 35 - 100 kg có 0,8 m2/con.
- Heo ở trong cùng lô nên có trong lượng như nhau hoặc chênh lệch nhau không nhiều (độ đồng đều cao).
- Ghi chép đầy đủ và đánh dấu hay bấm số để theo dõi từng cá thể (xem ở phần quản lý đàn).
 
b. Kỹ thuật cho ăn, uống
- Cho heo ăn đúng với tiêu chuẩn và khẩu phần
- Cho ăn thức ăn tinh trước, thức ăn thô sau
- Cho heo ăn từng đợt, tránh để vung vải thức ăn ra nền chuồng, phải đảm bảo con nào cũng được ăn khẩu phần của nó.
- Tập cho heo ăn có phản xạ có điều kiện về giờ giấc cho ăn để nâng cao khả năng tiêu hóa.
- Không thay đổi khẩu phần ăn một cách đột ngột
- Tiêu chuẩn ăn phải thay đổi từng tuần
- Không sử dụng những thức ăn mất phẩm chất
- Không pha loãng thức ăn quá tỷ lệ 1 : 1
- Nước uống cho heo uống thỏa mãn nhu cầu.
- Vừa cho heo ăn vừa theo dõi tình trạng sức khỏe và khả năng ăn vào
 
c. Vận động và tắm
Cũng như các loại heo khác, heo thịt cũng cần được vận động và tắm chải. Phương pháp này cần được tiến hành như sau:
heo ở giai đoạn 2 - 4 tháng tuổi cho vận động 2 - 3 giờ/ngày
 
d. Chuồng nuôi và vệ sinh
Ở điều kiện nước ta chuồng nuôi heo thịt là kiểu chuồng hở, đảm bảo ấm về mùa đông mát về mùa hè, nền chuồng luôn khô ráo và sạch sẽ.
 
e. Phòng bệnh cho heo
Trước khi heo đưa vào nuôi thịt chúng ta phải tiêm phòng vào lúc 8 - 12 tuần tuổi đối với các loại vắc – xin thông thường, riêng đối với bệnh Phó thương hàn cần tiêm cho heo trong thời kì heo con theo mẹ và sau đó có thể tiêm phòng nhắc lại. Thông thường sau khi tiêm lần 1 khoảng 10 – 20 ngày, heo có thể được tiêm nhắc lại hay bổ sung. Tẩy các loại giun sán bằng các loại thuốc như Tetramysone, Dipterex, Levamysone cho heo trước khi đưa vào nuôi heo thịt.
 
4. Quản lý đàn heo thịt
Công việc quan trọng của quản lý đàn heo thịt là theo dõi và ghi chép các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật trong quá trình nuôi để tính toán hiệu quả của từng giai đoạn, đồng thời có thể điều khiển tốc độ sinh trưởng thông qua nuôi dưỡng và chăm sóc. Theo kinh nghiệm của một số nước có chăn nuôi heo tiên tiến, việc điều khiển tốc độ tăng trọng cũng như phẩm chất thịt của heo thông qua khẩu phần và tiêu chuẩn ăn đã khẳng định heo thịt cần thay đổi tiêu chuẩn ăn theo tuần tuổi và theo dõi tăng trọng theo từng kỳ. Tuy nhiên, trong chăn nuôi heo theo nông hộ việc đưa ra các công việc theo dõi ghi chép về các chỉ tiêu kinh tế rất khó do vậy cần khuyến cáo nông dân nên chú ý theo từng giai đoạn nuôi, có thể 3 lần trong một chu kỳ nuôi heo thịt. Tiêu chuẩn ăn nên thay đổi theo trọng lượng tăng lên của lợn trong quá trình nuôi.
 
5. Kỹ thuật nuôi và vỗ béo heo nái loại thải
Trong chăn nuôi, hàng năm có khoản 20 - 25 % heo nái loại thải chuyển sang vổ béo để giết thịt.
- Tháng thứ nhất cần tiến hành thiến heo, sau khi thiến hoạn heo phải được nuôi với chế độ dinh dưỡng tốt và phải tuyệt đối giữ vệ sinh sạch sẽ để khỏi bị nhiễm trùng vết mổ.
- Tháng thứ 2 nên cho heo ăn vơi khẩu phần có từ 80 đến 90 % thức ăn tinh và có thể kết hợp cho heo ăn thức ăn bổ sung để nâng cao chất lượng thịt bởi vì loại heo này thường có chất lượng thịt kém, tỷ lệ mỡ cao, thịt không thơm ngon, độ mềm thấp. Chuồng nuôi heo loại thải vỗ béo cần yên tĩnh để tạo điều kiện cho heo ngủ nhiều và chóng béo.
 
* Sử dụng các chất bổ sung để kích thích sinh trưởng cho heo thịt
- Bổ sung vitamine và khoáng chất để kích thích quá trình sinh trưởng và phát triển của heo
 
6. Các biện pháp kỹ thuật để năn cao năng suất và phẩm chất thịt heo
- Công tác giống heo
Chọn các giống có khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh, có tỷ lệ nạc cao như Landrace, Large White, Hampshire và Hampshire cho lai với nhau tạo ra các loại heo lai có ưu thế lai cao ở trong các giống heo ngoại và đồng thời cho lai với các giống heo nội tốt. Sau đây là một số công thức lai có năng suất cao: F2 (ĐB x MC) x LD; F2 (Y x MC) x LD; LD x Y, LD x ĐB, PiDu x LDYr cho các khu vực chăn nuôi tập trung công nghiệp hay các nông hộ có trình độ chăn nuôi cao và khả năng đầu tư thâm canh cao.
- Chế độ dinh dưỡng tốt
Để đạt được mục đích chăn nuôi heo thịt có năng suất và chất lượng cao. Người chăn nuôi nên áp dụng công thức cao đều, sử dụng khẩu phần ăn có dinh dưỡng cao nhằm mục đích tạo thịt heo có tỷ lệ nạc cao. Sử dụng kỹ thuật nuôi heo theo 2 giai đoạn.
- Thời gian nuôi ngắn
Có thể kết thúc vổ béo heo thịt vào lúc 5 - 6 tháng tuổi với trọng lượng từ 80 - 100 kg. Theo qui luật sinh trưởng phát triển của heo thịt theo các giai đoạn khác nhau, người chăn nuôi
 
Theo thietbichannuoi.com
Hãy Share để mọi người cùng biết!

Cách phòng trị bệnh tiêu chảy ở dê

Bệnh chỉ xảy ra ở dê con. Các loại vi khuẩn có khả năng gây nên tiêu chảy thường là: E.coli, Clostridium perfringens và Salmonella.

Một số loài virut như rota và corona cũng tham gia gây bệnh này. Tỷ lệ mắc bệnh này trong đàn thường tăng cao khi nuôi dê con thâm canh trong điều kiện chật chội và vệ sinh kém, hoặc nuôi dê quảng canh trong môi trường quá nóng hoặc quá lạnh và ẩm thấp; Sử dụng thức ăn thay thế sữa kém chất lượng, thay đổi chế độ ăn và loại thức ăn đột ngột, thiếu sữa đầu.
 Kết quả hình ảnh cho dê tiêu chảy
1. Triệu chứng:
 
– Ở thể nhẹ: Dê có thể trạng bình thường, tiêu chảy ngắn, phân thay đổi từ nhão đến loãng.
 
– Ở thể nặng: Cơ thể bị mất nước, dê con buồn rầu, mồm khô, mất phản xạ bú mẹ, dê yếu không đứng dậy được; đầu, tai, mũi bị lạnh; đuôi mắt nhợt nhạt, thân nhiệt hạ, bỏ ăn, bụng nhão, nhu động đường ruột tăng rất mạnh. Phân thay đổi từ sền sệt chuyển sang trắng có bọt xanh, vàng hôi thối.
 
2. Cách điều trị:
 
Đưa dê con vào nơi ấm, khô ráo. Điều trị bệnh này cần kết hợp với việc bổ sung lượng nước đã bị mất, cân bằng các chất điện giải trong cơ thể và dùng kháng sinh tiêu diệt mầm bệnh.
 
Có thể sử dụng một trong các dung dịch chống mất nước và chất điện giải theo công thức sau đây:
 
– Công thức 1:
 
+ 10 g muối tinh
 
+ 50 gmuối Biccarbonat natri
 
+ 120 ml mật ong
 
Hòa các thành phần trên với 4,5l nước để cho dê uống với liều lượng 10% khối lượng cơ thể, chia làm 2 – 4 lần/ngày, trong 2 ngày liền; Từ ngày thứ 3 giảm dần dung dịch đó và tăng dần lượng sữa mẹ đến khi khỏi hoàn toàn. Nếu sau 2 ngày mà dê không khỏi tiêu chảy thì nên kết hợp dùng kháng sinh.
 
– Công thức 2:
 
+ 10 g muối tinh
 
+ 10 g muối Biccarbonat natri
 
Hòa các thành phần trên với 2,5l nước và cho uống như ở công thức 1.
 
Có thể sử dụng nước sắc các loại lá, quả có chất chát như: thân lá sim, mua, búp ổi, hồng xiêm, cỏ sữa … để thay thế nước pha ở trên.
 
Trường hợp bị bệnh nặng thì cần dùng kháng sinh để điều trị (ví dụ: hỗn hợp Trimethoprim – Sulfonamide, Tetracyclin, Neomycin, Sulfaguanidin …)
 
3. Phòng bệnh:
 
Cách ly ngay những con dê bị mắc bệnh. Vệ sinh chuồng dê sạch sẽ, khô ráo trước khi đẻ. Dê con sơ sinh cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt. Dê con cần được lót ổ bằng cỏ khô và tập cho ăn thức ăn tinh từ tuần thứ 2. Chống nhiễm bẩn vào thức ăn, nước uống.
Hãy Share để mọi người cùng biết!

Quản lý tình trạng heo còi

Tình trạng nái không có sữa hoặc ít sữa sau khi sinh chiếm từ 4 ~ 10% và có thể được gọi dưới các tên như sốt sau khi sinh, rối loạn tiết sữa, nhiễm trùng huyết sau khi sinh, hội chứng MMA... Bệnh lý này dẫn đến nái sản xuất thiếu sữa, khiến heo con chậm lớn. 

1. Nguyên nhân
 
Nguyên nhân có thể là do các vi khuẩn như E.coli, tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn, Mycoplasma; cho nái ăn cám quá nhiều, nái bị táo bón, thiếu vitamin E, rối loạn chức năng nội tiết tố...
 
Nái kém sữa thường đi kèm các triệu chứng lâm sàng như sưng vú, viêm vú, tiết dịch âm đạo quá nhiều, viêm tử cung, sốt cao, bỏ ăn. Ở nái bình thường, độ pH của sữa khoảng 6,4 ~ 6,5, còn ở nái bệnh, độ pH vào khoảng 7 ~ 7,8. Nếu nái bị viêm vú thì sữa ở những vú phía sau sẽ không tốt bằng sữa ở vú phía trước, vì vú phía sau dễ bị tổn thương hơn và lượng máu cung cấp thường bị thiếu. Trong trường hợp nái ít sữa, thân nhiệt sẽ gia tăng, lượng cám và nước uống vào giảm, triệu chứng ít sữa sẽ xuất hiện sau 24 ~ 48 tiếng. Những heo con của nái ít sữa sẽ nhận ít kháng thể truyền từ mẹ hơn, khiến cho khả năng mắc bệnh như tiêu chảy sẽ cao. Tỷ lệ hao hụt heo con của nái ít sữa cao gấp 2 ~ 3 lần so với heo con của nái bình thường.
 
2. Chẩn đoán
 
Đầu tiên, để đánh giá vấn để cần xác định là do nguyên nhân lây nhiễm hay không lây nhiễm. Việc phân biệt hai nguyên nhân này thường không dễ dàng. Sau khi sinh trong vòng 48 tiếng, cần phải sử dụng các biện pháp kích thích vùng tuyến vú của nái. Thông thường, tuyến vú của heo thường mềm, khi bị viêm vú sẽ cứng hơn. Lúc này, việc xoa bóp vú heo có thể giúp vú đỡ sưng và tiết sữa bình thường. Trường hợp có nhiều vú bị căng cứng cùng lúc, có thể nghi ngờ là do nguyên nhân lây nhiễm.
 
Các nguyên nhân không lầy nhiễm thường gây nên các triệu chứng chủ yếu như: sau khi sinh tuyến vú phát triển kém, vú bị sưng phù thủng có tiết dịch nhờn. Ngoài ra, cần quan sát heo con lớn có đồng đều hay không.
 
Tình trạng heo còi
 
3. Dinh dưỡng
 
Dinh dưỡng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc sản xuất sữa của nái. Ngoài ra, nội tiết tố cũng có vai trò không nhỏ đối với sự tiết sữa. Progesterone ức chế sự tiết sữa của nái và Estrogen làm giảm lượng cám ăn vào. Khi nái đẻ, hàm lượng của các hóc – môn này có sự khác biệt giữa các nái. Heo con của những nái có nồng độ Progesterone tăng trong vòng 48 tiếng sau khi đẻ sẽ không lớn cho đến 3 ngày tuổi và tỷ lệ hao hụt cao hơn so với thông thường.
 
Nái bị táo bón cũng gây ảnh hưởng tới sự còi cọc của heo con. Khi nái bị táo bón chúng sẽ giảm lượng cám ăn vào. Vì vậy, khuyến cáo nên bổ sung chất xơ vào cám nái đẻ để giảm ảnh hưởng của táo bón trên heo.
 
Theo đặc tính di truyền của dòng heo hướng nạc, trước khi sinh từ 2 ~ 3 tuần, chúng thường tích lũy mỡ ở vùng ngực nên sẽ gây áp lực lên vùng vú dẫn tới sung vú, vú bị cứng, giảm lượng sữa tiết ra. Để giải quyết vấn đề này, trước ngày dự kiến đẻ khoảng vài ngày nên giảm lượng cám xuống còn 1,6kg. Các nghiên cứu gần đây cho thấy, lượng cám cấp cho nái mang thai từ 30 ~ 100 ngày nên tăng và 2 tuần cuối thai kì nên giảm xuống.
 
4. Các nguyên nhân không do lây nhiễm khác
 
Nái giống heo hướng nạc thường có xu hướng tăng trọng nhanh, FCR tốt, nhưng lượng sữa tiết ra lại không cao. Vì thế, cần tiến hành lai chéo, sử dụng các giống đực tốt để khắc phục tình trạng này.
 
Heo nái cần phải được cung cấp đủ nước thì chúng mới sản xuất được nhiều sữa. Áp lực nước ở vòi phải đạt 2lít/phút để nái có thể uống nước dễ dàng. Sau nhiều năm sử dụng, ống nước có thể bị nghẹt, làm lượng nước cung cấp cho heo giảm. Những chuồng nái cho năng suất không tốt thường liên quan tới vấn đề cung cấp nước. Nước giúp heo sản xuất sữa, điều chỉnh thân nhiệt, bài tiết chất độc. Đặc biệt là trong và sau khi đẻ, heo hô hấp rất nhiều, dẫn đến mất nước, vì thế cần cung cấp đầy đủ nước cho heo. Nếu thiếu nước heo sẽ giảm lượng cám ăn vào và dẫn đến tình trạng thiếu sữa cho heo con.
 
Những chuồng có nhiệt độ Gao cần điều chỉnh nhiệt độ phù hợp với heo, sao cho nái không giảm lượng cám ăn vào, không giảm trọng lượng quá nhanh, không ảnh hưởng tới khả năng tiết sữa. Nhiệt độ trong trại đẻ nên duy trì ở khoảng 20°c và phải sử dụng thảm với đèn úm để sưởi heo con.
Cần loại trừ các độc tố nấm mốc ảnh hưởng tới heo như tricothecenes, zearanolol, aflatoxin...
Ngoài ra, khả năng sản xuất sữa của những nái già cũng bị giảm sút, do vậy nên đào thải những nái trên 8 lứa.
 
5. Biện pháp khắc phục
 
- Trường hợp do nguyên nhân lây nhiễm:
  • Sử dụng penicillin điều trị, loại bỏ các độc tố trong thận thông qua đường tiểu. Tạo môi trường thoải mái an toàn cho nái.
  • Rửa tử cung nái: Nên tiến hành rửa những nái bị chảy mủ tử cung.
- Trường hợp do nguyên nhân không lây nhiễm:
  • Yếu tố dinh dưỡng: bổ sung vitamin C, D, E vào cám. Tăng thêm 2% đạm thô.
  • Duy trì nhiệt độ chuồng từ 18 ~ 20°c.
  • Chương trình cấp cám: trước khí đẻ 5 ngày giảm lượng cám cho ăn, sau khi đẻ 7 ngày tăng dần lượng cám cho ăn. Cung cấp lượng thức ăn phù hợp với từng giống heo.
  • Nái bị táo bón: bổ sung chất xơ và cho uống nhiểu nước (áp lực nước cần đạt 1,5 ~ 2 lít/phút)
Hãy Share để mọi người cùng biết!

Nguyên tắc nhập 2 đàn lợn và khắc phục hiện tượng cắn nhau

Khi nhập hai đàn lợn nuôi chung 1 chuồng, nhiều vấn đề có thể nảy sinh. Do vậy, ở bài viết này chúng tôi xin giới thiệu nguyên tắc nhập 2 đàn lợn vào nuôi chung một chuồng và khắc phục hiện tượng cắn nhau.


1. Nguyên tắc nhập 2 đàn lợn nuôi chung một chuồng

Khi nhập 2 đàn lợn ở 2 ô chuồng khác nhau vào 1 ô chuồng, thì chúng ta cần làm những việc như sau để lợn không cắn nhau:
- Thứ nhất, tiến hành nhập đàn vào ban đêm và khi nhập phải tắt điện đi tránh ánh sáng mạnh.
- Thứ hai, vẩy dầu ma dút hoặc dầu gió lên tất cả các con lợn ở cả hai đàn để tạo đồng mùi.
- Thứ ba, nên nuôi đàn lợn mới nhập ở 1 ô chuồng mới, chứ không nên nuôi ở 1 trong 2 ô chuồng cũ.

Nguyên tắc nhập đàn lợn

2. Nguyên nhân hiện tượng lợn cắn nhau và cách khắc phục

a. Nguyên nhân: có thể do 3 nguyên nhân sau:
Nuôi lợn nhốt ở chuồng thông thoáng quá, có ánh nắng chiếu vào chuồng, gần được giao thông
Do không cung cấp đủ nước uống cho lợn.
Do chất lượng thức ăn không đầy đủ dinh dưỡng và cân bằng dinh dưỡng đặc biệt là nhóm các nguyên tố vi lượng

b. Khắc phục hiện tượng cắn nhau:
Kiểm tra lại chuồng trại che chắn để giảm bớt ánh nắng chiếu vào chuồng.
Cung cấp đầy đủ nước uống cho lợn.
Lợn giai đoạn nào thì cho ăn đúng cám giai đọan đó.

Ngoài ra bà con có thể cho quả bóng nhựa hoặc cắt lốp xe ô tô từ 20-40cm, sau đó rửa sạch thả vào chuồng để chúng cắn vào cái đó, sẽ hạn chế được lợn cắn lẫn nhau.

                                                                                                                        K.s Phạm Công Khải
Hãy Share để mọi người cùng biết!

Giải quyết vấn đề dịch bệnh cho trang trại

1. Thiết lập chương trình vắc-xin:
 
Tuy chỉ số hàm lượng kháng thể của bầy heo của các trại có sự khác biệt, nhưng khi thực hiện chương trình vắc-xin cần chú ý tham khảo một số điều căn bản sau:
 
- Hầu như các loại vắc-xin trên heo không gây ảnh hưởng lẫn nhau đến hiệu quả của chúng, tuy nhiên nên chích vắc-xin PPV và HC cách nhau tối thiểu 1 tuần.
- Thời gian hình thành miễn dịch tối thiểu là 2 tuần, vì thế hai tuần trước khi đẻ phải hoàn thành chương trình vắc-xin.
- Thời gian giữa 2 lần chích vắc-xin lần 1 và 2 phải từ 2~3 tuần (nên theo hướng dẫn của nhà sản xuất)
- Khi lập chương trình vắc-xin nên tham khảo ý kiến bác sĩ thú ý để phù hợp với tình hình trang trại.
 
Phòng bệnh cho heo
 
2. Lựa chọn thuốc và phương pháp sát trùng:
 
a. Lựa chọn thuốc:
 
Mỗi trại đều có các loại vi khuẩn, vi-rút, nấm mốc, chất hữu cơ, điều kiện nhiệt độ, pH... khác nhau nên tác dụng của các loại thuốc sát trùng cũng không như nhau. Đặc biệt, có một số loại thuốc sát trùng không có hiệu quả trên một số vi-rút. Vì vậy, khi lựa chọn nên căn cứ vào tình hình của trại và tham khảo ý kiến người sản xuất.
 
b. Các biện pháp sát trùng:
 
  • Sát trùng cửa chính: Hầu như các vật trung gian truyền bệnh đều đi qua cửa chính. Ta phải sát trùng xe, người ra vào, vệ sinh tay...
  • Sát trùng đường đi chính: Phải rải vôi hoặc định kì xịt sát trùng đường dẫn từ cổng chính đến cửa vào trại.
  • Sát trùng hệ thống nước uống: Áp dụng một tháng một lần. Giai đoạn dịch bệnh uy hiếp thì hai tháng một lần. Ta có thể sử dụng amoni clorua bậc 4 để sát trùng.
  • Sát trùng khu bãi rác: Sử dụng các biện pháp xử lý, tiêu hủy tốt nhất, có thể sát trùng bằng vôi hoặc xút.
  • Sát trùng trong ngoài trại: Xịt sát trùng trong và ngoài trại.
  • Sát trùng nái: Tắm rửa và sát trùng nái trước khi chuyển sang trại đẻ.
  • Ủng và quần áo lao động: Cấp ủng và quần áo lao động riêng biệt.
 
3. Đơn giản hóa việc sử dụng thuốc:
 
Rất nhiều trang trại sử dụng các loại thuốc có thành phần giống nhau. Chỉ với việc phòng ngừa và điều trị trong trại đã có hàng chục loại kháng sinh. Nên đơn giản hóa việc sử dụng kháng sinh, chỉ sử dụng kháng sinh có hiệu quả cao trong trại nuôi heo. Nếu làm được việc này sẽ giảm được nguy cơ bị lờn thuốc.
 
4. Biện pháp đối phó với dịch bệnh theo từng mùa và từng giai đoạn nuôi:
 
Nếu các loại bệnh trong trại tăng thì sẽ dẫn đến tình trạng heo bị bệnh đa nhiễm. Tuy nhiên, các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sẽ phát sinh mạnh theo từng mùa và từng giai đoạn nuôi. Vì thế, cần chú ý kiểm soát bệnh và điều trị tận gốc nhằm ngăn chặn tình trạng heo bị bệnh đa nhiễm.
 
Nguồn: heo.com.vn
Hãy Share để mọi người cùng biết!

BÀI VIẾT NỔI BẬT

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Fanpage

Quảng cáo và tài trợ

loading...

Pages